Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Cung ứng chế phẩm sinh học Huyện Thạch Hà

Giá chế phẩm sinh học Tỉnh Hà Tĩnh



vừa rồi tại ở Việt Nam tôi dần quen với “Chế phẩm sinh vật học” Có thể chúng ta còn đang lừng chừng chưa hiểu hết được các vấn đề như: Chế phẩm sinh học là gì? Chế phẩm sinh vật học có hiệu quả gì? Phân biệt chế phẩm sinh vật học như thế nào?

Báo giá chế phẩm sinh học Huyện Thạch Hà các ngày vừa rồi, đài báo thông tin nhiều về vấn nạn vi khuẩn kháng kháng sinh- đây là đề tài nóng sốt và cả thế giới đang tập kết tìm biện pháp mới thay cho Kháng sinh do nhiều loại vi khuẩn đã thích nghi với kháng sinh và trở nên siêu vi khuẩn- KHÁNG KHÁNG SINH. Nói đến kháng sinh thì ai ai cũng biết- từ bà mẹ có con nhỏ, đi bác sỹ vài lần là biết, đến người chăn nuôi- heo, gà bệnh mấy lần là biết kháng sinh có tác dụng gì, ngay cả trong nuôi tôm- trước đây bà con cũng lạm dụng kháng sinh dẫn đến dư lượng kháng sinh trong tôm thành phẩm, khiến cho việc xuất khẩu tôm đi nước ngoài rất khó khăn- vì mặt hàng tôm qua tới hải quan nước nhập là họ rà soát, nếu phát hiện thì có thể bị hủy tại chỗ hoặc trả về; thậm chí bị đưa và danh sách đen -cấm nhập vào nước họ. Kháng sinh trước đây được xem như thần dược, ngoài ra giờ đây, nhiều mặt trái của nó đã hiển hiện, và thế giới đang đau đầu để tìm giải pháp thay thế “thần dược” này. Kháng sinh trong tiếng Anh là Antibiotics, gồm 2 từ Anti & biotics.

Các Chủng Loại Chế Phẩm sinh vật học:

Nhóm 1: gồm các vi sinh vật sống như vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus, lactobacillus,… và thường được trộn vào thức ăn để kích thích tiêu hoá, giúp tăng trưởng,…
Nhóm 2: gồm các vi sinh vật có tính đối kháng hoặc cạnh tranh thức ăn với vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn Bacillus spp và được đùng trong xử lý các chất thải hữu cơ và các khí độc trong môi trường ao nuôi.
Nhóm 3: gồm các vi sinh vật cải thiện chất lượng môi trường như vi khuẩn Nitrosomonas sp, Nitrobacter,…. Được dùng trong xử lý nước ao nuôi và nền đáy.

Probiotics đã và đang được dùng khá ý nghĩa để phòng bệnh cho con người và cả gia súc, gia cầm và cho cây trồng, nông nghiệp. Nhiều vi sinh đã được sử dụng để SX ra các chế phẩm ứng dụng rất tác dụng nhằm kiểm soát côn trùng gây hại cho cây trồng như vi khuẩn Lactobacillus, bifidobacterium, phototrophic batteria, lactic acid batteria, yeast, enterococcus … ngoại giả các chế phẩm vi sinh còn được sử dụng để làm phân bón vi sinh nhằm phân giải các chất hữu cơ làm giàu cho đất, phân giải lân khó tiêu thành lân dễ tiêu để cây trồng hấp thu được, vi khuẩn ổn định thăng bằng đạm. Và vừa qua, việc dùng các chế phẩm trong chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản – nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra, ốc hương, ếch, v.v là một khuynh hướng mới (thay thế cho biện pháp dùng kháng sinh như ở đầu bài viết hoặc loại bỏ việc dùng các chất diệt khuẩn như clorine).

Vai trò của chế phẩm sinh học:

Tăng cường sức khoẻ và ngăn chặn mầm bệnh
Trong một thời gian dài, các chất kháng sinh đã được dùng để ngăn chặn bệnh dịch trong nuôi trồng thuỷ sản. ngoài ra, việc sử dụng khánh sinh gây ra nhiều vấn đề như dư thừa chất khánh sinh trong các sản phấm thuỷ sản, tạo ra các cơ chế kháng khuẩn cũng như làm mất cân bằng các men tiêu hoá trong đường ruột, gây tác động đến sức khoẻ của vật nuôi. mặt #, nhu cầu của con người đối với các sản phẩm thuỷ sản sạnh và an toàn trên thế giới càng ngày càng cao. thành ra, việc dùng chế phẩm sinh vật học là một cách hữu hiệu trong việc ngăn chặn mầm bệnh và kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản.

Chế phẩm sinh học có khả năng sản sinh ra các chất hoá học có ý nghĩa diệt các vi khuẩn gây bệnh bám trên thành ruột của vật chủ, thành ra có thể coi chế phẩm sinh vật học là một rào cản hữu hiệu ngăn chặn sự tăng trưởng của mầm bệnh.

Ngoài ra, chế phấm sinh học hay các vi khuẩn có lợi còn có khả năng ạnh tranh vị trí bám và thức ăn trong thành ruột với các vi sinh vật gây bệnh, không cho phép các vi sinh vật này bám vào thân thể vật nuôi, nhờ vậy giúp ngăn ngừa dịch bệnh, bảo đảm sức khoẻ cho vật nuôi.

Cải thiệt hệ tiêu hoá
Chế phẩm sinh học là nguồn dinh dưỡng và enzyme cho bộ máy tiêu hoá của các vật nuôi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế phấm sinh vật học có tác động tích cực đến giai đoạn tiêu hoá của các vật nuôi vì chưng các dòng chế phẩm sinh vật học SX ra các en-zim ngoại bào như: as protease, amilaza, lipaza,… và cung cấp các dưỡng chất PT cấp thiết như vitamin, axit béo, axit amin,… Trong nuôi các, các vi khuẩn vi sinh như bacteroides và clostridium sp đã cung cấp dinh dưỡng cho cá, đặc biệt là phục vụ các axit béo và vitamin

Chế phẩm sinh vật học dùng để ủ phân (phân cá, phân chuồng, phân bánh dầu, compost, v.v). Với vận dụng này- bà con vùng Tây Nguyên rất quen thuộc- vừa giúp phân hủy nhanh xác, bả động thực vật, vừa cho ra sản phẩm phân hữu cơ thân thiện với cây và đất trồng, đồng thời làm giảm mùi hôi của phân khi đem ra sử dụng.
Chế phẩm sinh vật học dùng để xử lý mùi hôi bải rác, bể phốt, v.v. vừa rồi, các bãi rác lớn của Tp. HCM, gặp vấn đề về mùi hôi- xộc vào khu dân cư, thành thị cao cấp Phú Mỹ Hưng và các vùng phụ cận, chế phẩm sinh học là biện pháp tốt nhất để giải quyết tận gốc mùi hôi này.

Cải thiện môi trường kế bên:
Chế phẩm sinh học giảm mùi hôi chuồng trại- trong chăn nuôi heo, bò, gà, vịt. Phân và chất thải trong môi trường chuồng trại gây ra chất độc, đặc trưng là anmoni- bà con phải dùng quạt liên tiếp để làm thông thoáng; bên cạnh đó đó chỉ là giải quyết phần ngọn, và gây tốn kém; thay vào đó nên dùng chế phẩm sinh vật học để giải quyết từ khâu phân, chất thải, giảm khí độc, giảm vi khuẩn có hại từ nguồn=> gà, vịt, heo, bò mau lớn, ít bệnh tật.
Chế phẩm sinh vật học khắc chế tảo độc, cải thiện môi trường nước ao nuôi, và đáy ao, làm giảm khí độc H2S, Amoni, v.v giúp tôm ăn ngon, ngủ yên, song song không phải dùng kháng sinh (như đã nói trên), cho ra sản phẩm tôm sạch đúng nghĩa, thân thiện với sức khỏe người dùng, môi trường nước ao nuôi ngày càng được cải thiện và giúp việc nuôi trồng thủy sản ngày một bền vững

thành ra để dễ hình dong, ta có thể so sánh hai định nghĩa Antibiotics v.s Probiotics, sẽ giúp hiểu được khái niệm Chế phẩm sinh vật học rồi đấy!

Tiếng Anh của chế phẩm sinh học là probiotics. Từ probiotics – bao gồm hai từ pro có nghĩa là thân thiện hay thiên về và biotics có tức thị sự sống, sinh vật. Ngược lại với Antibiotic (kháng sinh) như đã nhắc ở đầu bài viết, chế phẩm sinh học được SX với mục tiêu kích thích sự gia tăng các loài vi khuẩn có lợi trong môi trường. Chế phẩm sinh học là SP được tạo ra bởi con người, bằng cách phối hợp hai hoặc nhiều dòng vi khuẩn có lợi trong cùng một môi trường để ảnh hưởng tới đối tượng cần cải tạo (đất, nước, đường ruột, v.v).

khoa học EM do Giáo sư-Tiến sĩ Teruo Higa-Trường Đại học Tổng hợp Ruykyus, Okinawa, Nhật Bản sáng tạo ra và được áp dụng vào thực tiễn vào đầu năm 1980. Ông đã kiên trì chiến đấu cho ý kiến mở mang các chế phẩm sinh học, tránh tiến tới đẩy lùi việc dùng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, trừ bệnh bằng hoá học. Ở định nghĩa này, thì EM được đăng ký và tên lưu hành trên toàn thế giới là EM1- tức chế phẩm sinh vật học gốc (thế hệ F1, để phân biệt với đời thứ cấp EM2, EM5, v.v).

Cải thiệt hệ tiêu hoá:
Chế phẩm sinh học là nguồn dinh dưỡng và enzyme cho bộ máy tiêu hoá của các vật nuôi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế phấm sinh vật học có thúc đẩy hăng hái đến giai đoạn tiêu hoá của các vật nuôi vì các dòng chế phẩm sinh học sản xuất ra các en-zim ngoại bào như: as protease, amilaza, lipaza,… và đáp ứng các dưỡng chất PT cần thiết như vitamin, axit béo, axit amin,… Trong nuôi các, các vi khuẩn vi sinh như bacteroides và clostridium sp đã đáp ứng dinh dưỡng cho cá, đặc biệt là phục vụ các axit béo và vitamin. ngoại giả, một số vi khuẩn có thể tham dự vào giai đoạn tiêu hoá của động vật hai mảnh vỏ bằng cách sản xuất ra các enzyme ngoại bào như protease, amilaza, lipaza và đáp ứng dưỡng chất tăng trưởng cần thiết như vitamin, axit béo, axit amin

Ở một khái niệm khác, Chế phẩm sinh vật học EM hay còn gọi là Vi sinh vật hữu hiệu- Effective microorganisms (EM) là tụ họp các loài vi sinh vật hữu dụng (vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc), sống cộng sinh trong cùng môi trường. Có thể vận dụng chúng như là một chất cấy nhằm tăng cường tính phổ biến vi sinh vật đất, bổ sung các vi sinh vật bổ ích vào môi trường tự nhiên, tránh sự ô nhiễm môi trường do các vi sinh vật có hại gây ra. Kết quả là có thể cải thiện chất lượng và làm tốt đất, chống bệnh do vi sinh vật và tăng cường tác dụng của việc dùng chất hữu cơ của cây trồng, vật nuôi.

Tăng cường sức khoẻ và ngăn chặn mầm bệnh
Trong một thời kì dài, các chất kháng sinh đã được dùng để ngăn chặn bệnh dịch trong nuôi trồng thuỷ sản. bên cạnh đó, việc sử dụng khánh sinh gây ra nhiều vấn đề như dư chất khánh sinh trong các sản phấm thuỷ sản, tạo ra các cơ chế kháng khuẩn cũng như làm mất thăng bằng các men tiêu hoá trong đường ruột, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của vật nuôi. còn nữa, nhu cầu của con người đối với các mặt hàng thuỷ sản sạnh và an toàn trên thế giới ngày một cao. cho nên, việc sử dụng chế phẩm sinh vật học là một phương pháp hữu hiệu trong việc ngăn chặn mầm bệnh và kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều bà con nuôi tôm từ các tỉnh Nam Định, yên bình, Nha Trang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, v.v đã và đang dùng chế phẩm sinh học, phản hồi với đơn vị tin tưởng.# là chế phẩm sinh vật học rất sạch- khống chế rất tốt tảo độc (có hại) và cho màu nước rất đẹp.
Chế phẩm sinh vật học có khả năng sản sinh ra các chất hoá học có tác dụng diệt các vi khuẩn gây bệnh bám trên thành ruột của vật chủ, thành thử có thể coi chế phẩm sinh vật học là một rào cản hữu hiệu ngăn chặn sự PT của mầm bệnh.
ngoại giả, chế phấm sinh vật học hay các vi khuẩn có lợi còn có khả năng ạnh tranh vị trí bám và thức ăn trong thành ruột với các vi sinh vật gây bệnh, không cho phép các vi sinh vật này bám vào cơ thể vật nuôi, nhờ vậy giúp ngăn ngừa dịch bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho vật nuôi.

Các chủng loại chế phẩm sinh vật học:

Nhóm 1: gồm các vi sinh vật sống như vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus, tactobacillus,… và thường được trộn vào thức ăn để kích thích tiêu hoá, giúp tăng trưởng,…
Nhóm 2: gồm các vi sinh vật có tính đối kháng hoặc khó khăn thức ăn với vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn Bacillus spp và được đùng trong xử lý các chất thải hữu cơ và các khí độc trong môi trường ao nuôi.
Nhóm 3: gồm các vi sinh vật cải thiện chất lượng môi trường như vi khuẩn Nitrosomonas sp, Nitrobacter,…. Được dùng trong xử lý nước ao nuôi và nền đáy.

Trong đời, chắc hẳn ai cũng đã từng nghe qua từ “Chế phẩm sinh học” nhưng chắc hẳn không ít người có nhiều tri thức hiểu biết về nó. Có thể tôi còn đang đo đắn chưa hiểu hết được các vấn đề như: Chế phẩm sinh học là gì? Chế phẩm sinh vật học có công dụng gì? Phân biệt chế phẩm sinh học ntn? ….. Hãy cùng sinh học Đất Việt tìm hiểu về nó nhé!

Từ chế phẩm sinh học (Probiotics) có mới đầu từ tiến Hy Lạp bao gồm hai từ pro có tức thị “Thân thiện” và biosis có ngĩa là “sự sống”. Thay cho việc diệt các bào tử vi khuẩn, chế phẩm sinh học được SX với mục tiêu kích thích sự gia tăng các loài vi khuẩn có lợi trong môi trường. Chế phẩm sinh vật học lần đầu tiên được giáo sư Fuller R(1989) định nghĩa như sau: “Một loại thức ăn có nguồn gốc từ những vi sinh vật sống và có tương tác có lợi lên vật chủ qua việc làm cải thiện sự thăng bằng hệ vi sinh trong đường ruột của vật chủ”.

Probiotic đã và đang được dùng khá ý nghĩa đẻ phòng bệnh cho con người và cả gia súc, gia cầm. Nhiều vi sinh đã được sử dụng để SX ra các chế phẩm vận dụng rất công dụng nhằm kiểm soát sâu bọ gây hại cho cây trồng như vi khuẩn Bacillus thuringiensis, nấm beauveria bassiana, metarrhizium anisopliae, virut NPV,… ngoại giả các chế phẩm vi sinh còn được dùng để làm phân bón vi sinh nhằm phân giải các chất hữu cơ làm giàu cho đất, phân giải lân khó tiêu thành lân dễ tiêu để cây trồng tiếp thụ được. ngoại giả, việc sử dụng các chế phẩm trong nuôi thuỷ sản còn khá mới mẻ.
Vậy tôi có thể kết luận mục đích của việc dùng chế phẩm sinh học là nhằm cải thiện và bổ sung chức năng của các vi sinh vật trong hệ tiêu hoá của vật chủ để giúp vật chủ hay ăn chóng lớn, kiệm ước chi phí đầu vào, giảm bệnh tật.

https://about.me/chephamsinhhoc


Cơ chế hđ của chế phẩm sinh học:

Theo một đôi công trình nghiên cứu gần đây thì chế phẩm sinh học được hđ theo một số góc cạnh như sau:

khó khăn loại trừ vi khuẩn gây bệnh: Chế phẩm sinh vật học có khả năng bám dính và giật bề mặt niêm mạc ruột, vì vậy tạo ra cơ chế bảo vệ chống lại các mầm bệnh qua việc khó khăn điểm bám và thức ăn.
Tạo ra các hoạt chất ức chế: Các nghiên cứu vừa rồi đã chứng minh các dòng chế phẩm sinh học sản sinh ra các chất diệt khuẩn chống lại các mầm bệnh bình thường trên vật nuôi.
Tăng cường hệ miễn dịch của vật nuôi: Các chế phẩm sinh học có thể kích thích hệ miễn dịch của vật nuôi. Các chất kích thích miễn nhiễm khác nhau tuỳ theo môi trường và cách sử dụng. Các chất dẫn xuất nhất quyết như polysaccharides, lipoproteins,….có khả năng làm tăng bạch cầu bằng cách kích hoạt đại thực bào. Việc dùng Bacillus đã được cho thấy có tác dụng trong việc phòng bệnh trên vật nuôi bằng cách kích hoạt hệ miễn dịch và có hệ miễn dịch tế bào trong tôm sú.

Theo nhiều công trình nghiên cứu gần đây và thực tại ứng dụng đã chứng minh thì chế phẩm sinh học được hoạt động theo một số góc cạnh như sau:
khó khăn loại trừ vi khuẩn gây bệnh: Chế phẩm sinh vật học có khả năng bám dính và giật bề mặt niêm mạc ruột, như vậy tạo ra cơ chế canh giữ chống lại các mầm bệnh qua việc khó khăn điểm bám và thức ăn. Trong môi trường ao nuôi, môi trường nước thải, hoặc chất thải- vi khuẩn có lợi trong chế phẩm sinh vật học làm nhiệm vụ như người công nhân dọn dẹp vệ sinh- tiêu thụ những thức ăn, chất dôi, phân hủy chúng, làm giảm khí độc trong ao nuôi, giảm bùn lơ lửng trong bể nước thải, hoặc giảm mùi chuồng trại; ngay cả với hầm bể phốt, chế phẩm sinh vật học làm tốt việc giảm mùi hôi cũng nhờ cơ chế này.
Tạo ra các hoạt chất ức chế: Các nghiên cứu gần đây đã khẳng định các dòng chế phẩm sinh vật học sản sinh ra các chất diệt khuẩn hoặc các enzyme chống lại các mầm bệnh thường nhật trên vật nuôi, cây trồng.
Tăng cường hệ miễn nhiễm của vật nuôi: Các chế phẩm sinh học có thể kích thích hệ miễn dịch của vật nuôi. Các chất kích thích miễn nhiễm khác nhau tuỳ theo môi trường và cách dùng. Các chất dẫn xuất khăng khăng như polysaccharides, lipoproteins, …có khả năng làm tăng bạch huyết cầu bằng cách kích hoạt đại thực bào. Việc sử dụng Bacillus đã được khẳng định có tác dụng trong việc phòng bệnh trên vật nuôi bằng cách kích hoạt hệ miễn nhiễm và có hệ miễn dịch tế bào trong tôm sú.
Những vi sinh vật có lợi khó khăn thức ăn với vi khuẩn có hại, đặc trưng khi ta chủ đích bổ sung chúng vào đối tượng cần được cải thiện, dẫn đến lực lượng của “phe ta” đông, áp đảo bọn xấu (vi khuẩn có hại), làm chúng yếu, lực lượng mỏng- bọn xấu sẽ không có thời cơ làm nên trò vè gì=> môi trường sẽ an lành, thân thiện hơn với vật nuôi, cây trồng, đất và ngay cả với con người.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét